Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Quá trình nung

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
solsol
THÀNH VIÊN 100
THÀNH VIÊN 100
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 159
Thanks! : 5
Join date : 05/09/2009
Age : 30
Đến từ : HN

Bài gửiTiêu đề: Quá trình nung   6/9/2009, 8:35 am

Quá trình nung



Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự
thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên
thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất
thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp.
Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới
nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí
quyết thành công của khâu đốt lò.

Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch
(hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm
nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc
thao tác hơn.

Lò nung


Lò ếch là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến ở khắp mọi
nơi, hiện nay mất hết dấu tích nhưng qua các nguồn tư liệu gián tiếp
vẫn có thể hình dung được lò có hình dáng giống như một con ếch dài
khoảng 7 mét, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét, cửa lò rộng khoảng
1,2 mét, cao 1 mét. Đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao khoảng từ 2 mét
đến 2,7 mét. Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục
vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao
3-3,5 mét. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm
là: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt.

Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp
đất gia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và
vữa ghép lại.

Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỷ 19. Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng
2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân
cách giữa các bích là hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét.
Bích thứ 10 gọi là bích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp. Để
giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong
ghép gạch Bát Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng. Mặt dưới
của cật lò gần như bằng phẳng còn mặt trên hình vòng khum. Hai bên cật
lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người ta dấu mở hai cửa nhỏ hình tròn,
đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích.
Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộng hơn nửa mét). Nhiệt độ
lò đàn có thể đạt được 1250–1300°C.

Lò bầu, hay lò rồng, xuất hiện vào đầu thế kỷ 20. Lò bầu chia ra làm
nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò
có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh
vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn
của lò. Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi
dài 2 mét thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét. Độ nghiêng của trục lò
khoảng 12-15⁰. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300°C.

Lò hộp hay lò đứng: Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển
sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên
trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa,
kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện
lợi cho quy mô gia đình. Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm,
thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250°C.

Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những
năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con
thoi, hoặc lò tuynen, với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá
trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ
mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự
động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy
nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng.

Bao nung

Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm
bao nung. Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa
cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng).

Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có mầu xám sẫm
trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với
tỷ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt. Người ta dùng một lượng nước vừa
đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành
bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò. Bao nung thường hình trụ để
cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm mà
bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại
có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm. Một
bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần.

Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung.

Nhiên liệu

Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò,
sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi
bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu
chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi bửa và củi phác sau khi đã
bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới
đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn
củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.
Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn
củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kỹ với đất bùn theo tỷ lệ
nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô.
Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước
nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay.

Chồng lò

Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung.
Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và
hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để
không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt
cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng
loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch, người ta xếp
sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta
xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa
kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu
cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi giành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên
đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm
được xếp trong lò bầu giống như lò đàn. Riêng đối với lò hộp, tất cả
các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và
xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng
trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than.
Về Đầu Trang Go down
 
Quá trình nung
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: DIỄN ĐÀN THIẾT KẾ TẠO DÁNG :: SẢN PHẨM TẠO DÁNG :: GỐM-SỨ-THỦY TINH-
Chuyển đến