Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Tài liệu Mỹ thuật thế giới

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
kachiusa
THÀNH VIÊN 15
THÀNH VIÊN 15
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 72
Thanks! : 2
Join date : 17/10/2009
Age : 29

Bài gửiTiêu đề: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   20/10/2009, 1:00 am

Leonardo di ser Piero da Vinci (sinh ngày 15 tháng 4 năm 1452 tại Anchiano, Ý - mất ngày 2 tháng 5 năm 1519 tại Amboise, Pháp) là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một nhà triết học tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì da Vinci
có nghĩa là "đến từ Vinci", không phải là họ thật của ông. Tên khai
sinh là "Leonardo di ser Piero da Vinci" có nghĩa là "Leonardo, con của
Ser Piero, đến từ Vinci". Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa ăn tối cuối cùng. Ông là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, sự sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull),
cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết
kế của ông đã được thực hiện và khả thi trong lúc ông còn sống. Ứng
dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực.
Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng
với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau
các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa
học, và bút ký.
Leonardo di ser Piero da Vinci (sinh ngày 15 tháng 4 năm 1452 tại Anchiano, Ý - mất ngày 2 tháng 5 năm 1519 tại Amboise, Pháp) là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một nhà triết học tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì da Vinci
có nghĩa là "đến từ Vinci", không phải là họ thật của ông. Tên khai
sinh là "Leonardo di ser Piero da Vinci" có nghĩa là "Leonardo, con của
Ser Piero, đến từ Vinci". Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa ăn tối cuối cùng. Ông là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, sự sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull),
cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết
kế của ông đã được thực hiện và khả thi trong lúc ông còn sống. Ứng
dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực.
Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng
với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau
các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa
học, và bút ký.

Xuất thân và thời niên thiếu
Một trong những bức tranh đầu tiên của Leonardo: Thánh mẫu Benois (1478)



Leonardo là người con không có giá thú của công chứng viên Ser Piero
(lúc bấy giờ 25 tuổi) và người con gái nông dân 22 tuổi Catarina. Quan
hệ của Catarina với Ser Piero dường như chấm dứt ngay sau khi bà sinh
người con trai. Sau đó ít lâu bà kết hôn với người chủ một lò gốm,
Accattabriga di Píaero del Vacca từ Vinci, và có thêm 5 người con.
Sau khi chia tay với Catarina, Ser Piero nhận nuôi dưỡng Leonardo.
Ông kết hôn 4 lần, có thêm 9 người con trai và 2 người con gái với hai
người vợ cuối của ông. Ser Piero là công chứng viên của nhiều gia đình
danh tiếng trong thành phố và là người thành công trong nghề nghiệp.
Thân chủ của ông bao gồm không những gia đình Medici mà còn gồm cả chính phủ thành phố (signoria) hay hội đồng quốc gia.
Leonardo lớn lên trong gia đình của cha ông và sống phần lớn thời gian thời thiếu niên tại thành phố Firenze.
Trong số những đam mê của ông, Leonardo yêu thích nhất là âm nhạc, vẽ
và tạo hình. Cha của Leonardo đưa một vài tranh vẽ của ông cho một
người quen xem, Andrea del Verocchio, người ngay lập tức nhận ra được tài năng về nghệ thuật của Leonardo và được Ser Piero chọn làm thầy cho Leonardo.
Mặc dầu không phải là một tài năng phát minh hay sáng tạo lớn trong
nghệ thuật đương thời ở Firenze nhưng Verocchio cũng là một nghệ nhân
hàng đầu trong nghề kim hoàn, điêu khắc và trong hội họa. Đặc biệt ông
là một người thầy tài năng. Leonardo làm việc nhiều năm (khoảng 1470-1477) trong xưởng vẽ của ông cùng với Lorenzo di CrediPietro Perugino.
Năm 1476
ông bị buộc tội cùng với 3 người đàn ông khác đã có quan hệ tình dục
với một người đàn ông làm mẫu 17 tuổi, Jacopo Saltarelli, là một người
đàn ông mại dâm được nhiều người biết. Sau 2 tháng trong tù ông được tuyên bố vô tội vì không có người làm chứng.
Chẳng bao lâu ông đã học hết tất cả những gì Verrocchio có thể dạy
hay là còn nhiều hơn thế nữa, nếu như có thể tin vào những câu chuyện
thường được kể lại về các hình ảnh hay tượng được cho là do những người
học trò của Verrocchio sáng tác. Giorgio Vasari, kiến trúc sư,
họa sĩ và cũng là một nhà tiên phong trong số những người biên niên sử
nghệ thuật cùng thời với Leonardo cũng đã tường thuật tương tự.
Bức tranh Rửa tội Christi do Verrocchio phác thảo cho các nhà
tu của Vallombrosa hiện có thể được xem tại Viện hàn lâm Firenze. Theo
Vasari thì thiên thần quỳ bên trái là do Leonardo thêm vào. Khi
Verrocchio nhìn thấy, ông đã nhận ra được tính nghệ thuật hơn hẳn so
với phần còn lại của chính tác phẩm của ông và người ta kể rằng từ đấy
ông tuyên bố vĩnh viễn từ bỏ hội họa. Bức tranh được vẽ nguyên thủy
bằng màu keo (tempera) này đã bị vẽ dầu chồng lên nhiều lần nên
việc kết luận có sơ sở hiện nay là rất khó khăn. Một số ý kiến đáng tin
cậy thiên về việc công nhận không những có bàn tay của Leonardo trên
khuôn mặt của thiên thần mà còn trong nhiều phần về y phục và phong
cảnh phía sau mang tính đặc trưng và có thể nhận thấy được trong các
tác phẩm khác của ông. Tác phẩm này được hoàn thành vào khoảng năm 1470, khi Leonardo 18 tuổi.
Vào khoảng năm 1472
tên của ông có trong danh sách của phường hội họa sĩ thành phố Firenze.
Ông sống và làm việc tại đây thêm 10 hay 11 năm và cho đến năm 1477 vẫn còn được gọi là học trò của Verrocchio. Thế nhưng trong năm này dường như ông đã được Lorenzo de Medici nâng đỡ và làm việc như là một nghệ sĩ độc lập dưới sự bảo trợ của Lorenzo de Medici từ 1482 cho đến 1483.
Thông qua lời giới thiệu của Lorenzo de Medici cho công tước Ludovico Sforza, người muốn đặt một tượng đài kỵ sĩ tôn vinh Francesco I Sforza, người khởi đầu cho triều đại Sforza tại Milano, Leonardo rời Firenze đến Milano vào khoảng năm 1483.

Milano


Bằng chứng đầu tiên được ghi lại cho thời gian làm việc của Leonardo tại Milano được xác định là năm 1487. Một vài nhà viết tiểu sử phỏng đoán là thời gian từ 1483
đến 1487 hay ít nhất là một phần của thời gian này được dùng cho những
chuyến đi du lịch phương Đông, thế nhưng từ tất cả những người cùng
thời với Leonardo đều không để lại một dấu vết nào về chuyến đi của
Leonardo về phương Đông.
Trong những năm đầu tiên sau khi tiếm quyền, Ludovico bị tấn công dữ
dội, đặc biệt là từ những người theo phái của chị dâu của ông, Bona của
Savoie, mẹ của công tước trẻ tuổi Gian Galeazzo Sforza,
người cầm quyền chính thống. Để chống lại những tấn công này, Ludovico
đã dùng hằng loạt thi sĩ và nghệ sĩ thông qua các diễn văn công cộng,
kịch nghệ, hình ảnh và khẩu hiệu để ca ngợi sự sáng suốt và tính tốt
đẹp của sự giám hộ đồng thời truyền bá tính xấu xa của những người
chống lại ông. Các ghi chép và dự án trong những bản viết tay của
Leonardo là bằng chứng cho thấy ông cũng thuộc về số người nghệ sĩ này.
Nhiều bức vẽ phác thảo như vậy hiện nay đang nằm trong Christ Church
tại Oxford,
một bức phác thảo vẽ một nữ phù thủy có sừng hay nữ quỷ đang xua chó
tấn công Milano. Bức phác thảo này gần như chắc chắn ám chỉ việc người
của nữ công tước Bona ám sát Ludovico không thành vào năm 1484.
Dịch hạch tại Milano trong thời gian 1484-1485
là dịp cho Leonardo trình nhiều dự án của ông lên Ludovico nhằm chia
lại thành phố và tái xây dựng theo các nguyên tắc vệ sinh tốt hơn. Thời
gian 1485-1486
dường như cũng là thời gian khởi đầu cho kế hoạch làm đẹp và củng cố
pháo đài của ông, mặc dầu không được toại nguyện. Sau đó là các kế
hoạch và mô hình của ông trong dịp thi đua được công bố giữa các kiến
trúc sư người Ý và người Đức để hoàn thành nhà thờ lớn của Milano. Văn
kiện trả tiền cho ông vẫn còn tồn tại nằm trong khoảng thời gian từ
tháng 8 năm 1487 đến tháng 5 năm 1490. Cuối cùng thì không một dự án nào được tiến hành.
Bữa ăn tối cuối cùng



Bức tượng kỵ sĩ cao 7 mét, nhiệm vụ chính của Leonardo khi đến Milano được hoàn thành vào cuối năm 1493, vào lúc người do hoàng đế Maximilian I cử đến hộ tống cô dâu Bianca Maria Sforza
về làm lễ cưới. Theo tường thuật thời bấy giờ thì đây là một công trình
vĩ đại, nhưng các tường thuật này lại thiếu chính xác đến mức không thể
kết luận được là tượng đài này phù hợp với phác thảo nào trong số nhiều
bản vẽ phác thảo còn tồn tại cho đến ngày nay.
Trong khoảng thời gian từ 1495 đến 1497 Leonardo vẽ một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của ông, bức bích họa Bữa ăn tối cuối cùng trong nhà thờ Santa Maria delle Grazie, theo yêu cầu của Ludovico Sforza. Năm 1980 nhà thờ cùng với bức tranh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Vua Louis XII của Pháp,
sau khi chiếm được Milano, đã đích thân đến tận nhà thờ để chiêm ngưỡng
bức tranh và đã hỏi là có thể tháo gỡ ra khỏi tường nhằm mang về Pháp. Hai tháng sau khi vua Louis XII chiếm Milano, trong tháng 12 năm 1499, Leonardo cùng người bạn là Luca Pacioli rời thành phố Milano.

Florence


Leonardo và Luca Pacioli dừng chân tại Mantua,
nơi Leonardo được nữ công tước Isabella Gonzage tiếp đón nồng hậu. Khi
nghe tin Ludovico kết cuộc đã bị lật đổ, hai người bạn từ bỏ kế hoạch
trở về Milano và tiếp tục đi đến Firenze, thành phố đang bị sức ép từ
nhiều vấn đề nội bộ và từ cuộc chiến tranh chống lại Pisa không có kết quả. Tại đây Leonardo nhận vẽ một bức tranh thờ cho nhà thờ Annunziata. Filippino Lippi, người thật ra đã nhận lời yêu cầu vẽ, đã nhường lại cho Leonardo. Mãi đến tháng 4 năm 1501
Leonardo mới hoàn thành bản phác thảo trên giấy. Mặc dù nhận được nhiều
lời khen ngợi cho bản vẽ trên giấy, Leonardo đã không hoàn thành bức
tranh này và các tu sĩ Annunziata cuối cùng lại phải chuyển lời yêu cầu
đến Filippino Lippi.
Mona Lisa



Trong mùa xuân năm 1502 ông bất ngờ về làm việc cho công tước Cesare Borgias. Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1502 cho đến tháng 3 năm 1503
Leonardo, với tư cách là kĩ sư quân sự có quyền cao nhất, đã đi du hành
qua một phần lớn miền trung nước Ý. Hai tháng sau khi Vito Luzza, một
người dưới quyền của Cesare và là bạn của Leonardo, bị Cesare giết
chết, Leonardo trở về Firenze. Ông đã để lại rất nhiều ghi chú và bản
vẽ có ghi ngày tháng cũng như 6 tấm bản đồ lớn do ông tự vẽ bao gồm các
vùng đất Maremma, ToscanaUmbria.
Trở về Firenze, ông được ủy nhiệm vẽ một bức bích họa trang trí cho
một trong những bức tường của đại sảnh nhà hội đồng thành phố. Michelangelo được trao nhiệm vụ vẽ một bức bích họa khác cũng trong cùng căn phòng. Ông hoàn thành phác thảo trên giấy trong vòng 2 năm (1504-1505) nhưng do có nhiều khó khăn về kĩ thuật trong lúc vẽ trên tường nên bức bích họa không được hoàn thành.
Trong thời gian này (1503-1506), theo một số nguồn khác là 1510-1515, Leonardo hoàn thành bức họa Mona Lisa (hay còn gọi là La Gioconda)
mà theo Vasari thì đây là bức chân dung của Lisa del Giocondo, vợ của
một người buôn bán tơ lụa tại Firenze. Lúc đương thời Leonardo đã không
thể rời bức tranh, ông mang bức họa này đi theo trên khắp các chặn
đường đời sau đó. Sau khi Leonardo qua đời, vua François I của Pháp đã mua bức tranh này với giá là 4.000 đồng Florin vàng. Người ta nói là cho đến ngày nay chưa có ai có thể sao chép lại được nụ cười trong bức tranh này.

Milano


Trong mùa xuân 1506, Leonardo chấp nhận lời mời khẩn thiết của Charles d'Amboise, thống đốc vùng Lombardia
của vua Pháp, trở về lại Milano. Vua Pháp Louis XII gửi tin yêu cầu
Leonardo hãy đợi ông đến Milano vì ông đã xem được một bức tranh Đức Mẹ
nhỏ của Leonardo ở Pháp và hy vọng sẽ nhận được từ Leonardo các tác
phẩm như vậy và ngoài ra có thể là một bức chân dung.
Hình vẽ của Leonardo: Một bào thai trong tử cung, khoảng 1510-1512



Tháng 9 cùng năm ông phải trở về Firenze vì việc riêng tư không vui.
Cha Leonardo qua đời vào năm 1504 dường như không để lại di chúc. Sau
đó Leonardo đã có tranh tụng với 7 người em trai cùng cha khác mẹ về
việc thừa kế gia tài của cha ông và sau đó là của một người chú bác.
Việc kiện tụng kéo dài nhiều năm và bắt buộc Leonardo phải nhiều lần
tạm ngưng công việc ở Milano để về Firenze, mặc dù đã có nhiều thư của
Charles d'Ambois, vua Louis XII, của những người thân quen và đỡ đầu có
thế lực khác để thúc đẩy sớm kết thúc việc kiện tụng này. Trong một bức
thư gửi Charles d'Amboise vào năm 1511,
Leonardo đã nhắc đến việc kiện tụng sẽ sắp chấm dứt và viết về hai bức
tranh Đức Mẹ mà ông sẽ mang về Milano. Người ta tin rằng một trong 2
bức tranh đó là bức Madonna Litta mà hiện nay một bản sao được trưng bày trong Viện bảo tàng Hermitage (Cung điện mùa Đông).
Vào tháng 5 năm 1507
vua Louis XII đến Milano và Leonardo chính thức chuyển sang phục vụ cho
Louis XII với chức danh là họa sĩ triều đình và kĩ sư. Theo những ghi
chép còn tồn tại, trong thời gian 7 năm Leonardo ở tại Milano (1506-1513)
ông làm việc rất ít trong lãnh vực hội họa và kiến trúc. Ông đã cùng
nghiên cứu về giải phẫu học với giáo sư Marcantonio della Torre. Bức
chân dung tự họa bằng phấn đỏ hiện đang ở trong Biblioteca Reale tại Torino có thể được vẽ vào khoảng thời gian này khi ông gần 60 tuổi.

Roma


Tháng 6 năm 1512
triều đại Sforza trở lại nắm quyền lực ở Milano. Chỉ trong vòng vài
tháng sau đó Leonardo và các học trò của ông rời Milano đi đến Roma
phục vụ cho gia đình Medici. Nhờ ảnh hưởng của Giuliano de Medici, một
người bạn của Leonardo và là người em trai trẻ tuổi nhất của giáo hoàng, Leonardo được cư ngụ trong Tòa thánh Vatican
và có một xưởng vẽ riêng. Theo các nguồn tài liệu đáng tin cậy còn tồn
tại trong thời gian này Leonardo chỉ vẽ hai bức tranh panel nhỏ cho một
viên chức trong tòa thánh. Qua nhiều công trình nghiên cứu về giải phẫu
học Leonardo đã khám phá ra chứng xơ cứng động mạch ở người già. Thế
nhưng các ghi chép của ông về đề tài này chưa từng được công bố và đã
mất tích hằng trăm năm trước khi tái xuất hiện. Sau khi ở tại Roma gần
2 năm Leonardo chấp nhận lời mời của vua François I của Pháp đi đến nước Pháp.

Pháp


Trong thời gian hơn 2 năm còn lại của cuộc đời Leonardo sống trong lâu đài Clos Lucé gần Amboise. Ông đã vẽ nhiều bức tranh như Leda và thiên nga (hiện chỉ còn lại bản sao), phiên bản thứ hai của bức tranh Đức mẹ đồng trinh trong hang đá. Leonardo mất ngày 2 tháng 5 năm 1519.



Tên khai sinhSinhMấtQuốc tịchNghề nghiệp
Leonardo da Vinci

Chân dung tự họa, khoảng 1512
Leonardo di Ser Piero da Vinci
15 tháng 4 năm 1452
Anchiano, Ý
2 tháng 5 năm 1519 (67 tuổi)
Amboise, Pháp
Ý
Họa sĩ, khoa học gia
Về Đầu Trang Go down
kachiusa
THÀNH VIÊN 15
THÀNH VIÊN 15
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 72
Thanks! : 2
Join date : 17/10/2009
Age : 29

Bài gửiTiêu đề: Re: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   20/10/2009, 1:02 am

Vincent Willem van Gogh (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1853, mất ngày 29 tháng 7 năm 1890), thường được biết đến với tên Vincent van Gogh ([ˈvɪnsɛnt vɑn ˈɣɔx] (trợ giúp·chi tiết)) là một danh hoạ Hà Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng[1]. Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và cũng đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức.
Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên và nhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và Tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp,
Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong
cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ
trong 10 năm cuối đời, họa sĩ đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó
có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần
lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm
cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt
bên tai trái vì tình bạn tan vỡ với họa sĩ Paul Gauguin. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.
Người quan trọng nhất trong cuộc đời Van Gogh là em trai ông, Theo,
người đã luôn lo lắng và hỗ trợ tài chính cho Van Gogh. Tình anh em
giữa Vincent và Theo đã được ghi lại qua rất nhiều lá thư họ trao đổi
kể từ tháng 8 năm 1872.
Tiểu sử
Thời niên thiếu (1853-1869)


Đại gia đình nhà van Gogh
Hàng trên: Theodorus và Anna Cornelia van Gogh
Hàng dưới (từ trái qua): Vincent Willem, Anna Cornelia, Theo, Elisabetha Huberta, Willemina Jacoba và Cornelius Vincent



Vincent van Gogh sinh năm 1853 tại Groot-Zundert, một làng nhỏ gần thành phố Breda thuộc tỉnh Bắc Brabant phía Nam Hà Lan[2]. Ông là con trai của bà Anna Cornelia Carbentus và ông Theodorus van Gogh, một giáo sĩ của Giáo hội cải cách Hà Lan. Van Gogh được đặt tên giống với ông nội và người anh cả đã chết non trước đó một năm. Có ý kiến[3]
cho rằng việc có tên trùng với tên người anh chết sớm đã có ảnh hưởng
tâm lý sâu sắc tới người họa sĩ trẻ và những tác phẩm của ông, tiêu
biểu là các bức chân dung hai người đàn ông. Thực ra thì việc sử dụng
tên Vincent là phổ biến trong dòng họ Van Gogh, ông nội của họa sĩ cũng
tên là Vincent van Gogh (1789-1874), một người tốt nghiệp khoa thần học tại Đại học Leiden
và có sáu người con, trong đó ba người làm nghề buôn bán tranh, bao gồm
một Vincent khác, người thường được nhắc đến trong các bức thư của Van
Gogh như là "chú Cent". Dòng họ Van Gogh vốn là một dòng họ chuyên hành
nghề buôn bán tranh hoặc làm các công việc có liên quan đến nghệ thuật.
Khi Van Gogh lên bốn thì người em trai của ông, Theodorus (Theo) ra đời ngày 1 tháng 5 năm 1857.
Ông còn có một người em trai khác là Cor và ba người em gái là
Elizabeth, Anna và Wil. Khi còn bé, Van Gogh là một đứa trẻ trầm tính,
ít nói và sâu sắc. Năm 1860 ông theo học ở trường làng Zundert đến năm 1861 thì bắt đầu học ở nhà cùng em gái Anna dưới sự hướng dẫn của một nữ gia sư. Năm 1864, Van Gogh lên Zevenbergen để vào học tại một trường nội trú, ông cảm thấy rất đau khổ vì phải xa gia đình và vẫn còn nhắc đến nỗi buồn này kể cả khi đã trưởng thành. Ngày 15 tháng 9 năm 1866, Van Gogh vào học tại trường Willem II College tại thành phố Tilburg, tại đây ông được học vẽ dưới sự hướng dẫn của Constantijn C. Huysmans, một họa sĩ đã có đôi chút thành công ở Paris. Tháng 3 năm 1868,
Van Gogh bất ngờ bỏ học để quay về nhà. Về sau ông nhắc lại thời niên
thiếu của mình như một giai đoạn u tối, lạnh lẽo và cằn cỗi[4].
Buôn bán tranh và truyền giáo (1869-1878)


Vincent van Gogh năm 1876



Tháng 7 năm 1869, ở tuổi 15, Van Gogh bắt đầu nghề buôn bán tranh tại công ty Goupil & CieDen Haag, đến tháng 6 năm 1873 ông được phái đến London. Trong thời gian ở thành phố này ông trọ tại số 87 đường Hackford, Brixton[5].
Đây là thời gian vui vẻ của Van Gogh khi ông thành công trong việc buôn
bán và đã có thể kiếm nhiều tiền hơn cha mình dù mới ở tuổi 20, vợ của
Theo sau này đã nhận xét rằng đây có lẽ là giai đoạn hạnh phúc nhất
trong cuộc đời Vincent[6]. Ông còn có tình cảm với cô Eugénie Loyer, con gái của bà chủ nhà trọ[6]
nhưng khi Van Gogh bày tỏ tình cảm với cô thì lại bị Eugénie từ chối
với lí do cô đã hẹn hò với một người khác. Vincent van Gogh bắt đầu trở
nên cô độc và sùng đạo.
Sau khi được bố và chú gửi đến Paris,
Van Gogh bắt đầu biểu lộ sự không hài lòng với việc coi nghệ thuật chỉ
là những món hàng và bộc lộ quan điểm của mình với khách hàng. Vì thế
đến ngày 1 tháng 4 năm 1876, Van Gogh quyết định chấm dứt công việc buôn bán tranh.
Tình cảm tôn giáo của Van Gogh bắt đầu phát triển tới mức ông nghĩ
rằng mình đã tìm được thiên hướng thực sự cho cuộc đời, ông trở lại Anh
làm việc không công, đầu tiên là giáo viên thay thế tại một trường nội
trú nhỏ nhìn ra cảng Ramsgate nơi ông đã thực hiện vài bức ký họa. Sau khi ngôi trường chuyển về Isleworth, Middlesex, Vincent cũng chuyển đi cùng nhưng rồi nhanh chóng bỏ nghề giáo viên để trở thành trợ tá cho một giáo sĩ của Phong trào Giám Lý với mục đích đưa sách phúc âm đến khắp nơi.
Vào Giáng sinh năm 1876, Van Gogh trở về nhà và làm việc cho một hiệu sách ở Dordrecht trong vòng sáu tháng, ông dành phần lớn thời gian để vẽ nguệch ngoạc hoặc dịch Kinh thánh sang tiếng Anh, tiếng Pháptiếng Đức[7].
Bạn cùng phòng của Vincent trong thời kỳ này là một giáo viên trẻ tên
là Görlitz, ông này về sau đã nhận xét rằng Vincent ăn uống rất đạm bạc
và thường thích ăn chay[8]. Trong một cố gắng giúp đỡ nguyện vọng trở thành mục sư của Van Gogh, gia đình ông gửi Van Gogh tới Amsterdam tháng 5 năm 1877. Tại thành phố này ông sống cùng người chú Jan van Gogh, một phó đô đốc hải quân[9], và học ôn để thi vào khoa Thần học dưới sự hướng dẫn của Johannes Stricker, một nhà thần học có tiếng tăm. Tuy vậy Vincent vẫn trượt kì thi đầu vào và ông rời khỏi nhà chú Jan tháng 7 năm 1878 để học một khóa ba tháng tại trường truyền giáo đạo Tin Lành (Vlaamsche Opleidingsschool) tại Laeken, gần Brussels.
Borinage và Brussels (1879-1880)


Ngôi nhà nơi Van Gogh sống trong thời gian ở Cuesmes năm 1880, tại nơi đây Van Gogh đã quyết định trở thành một họa sĩ



Tháng 1 năm 1879, Van Gogh được giao chức vụ người truyền giáo tạm thời tại một làng ở Petit Wasmes[10][11] thuộc vùng mỏ than Borinage của Bỉ với nhiệm vụ đem lại niềm tin tôn giáo cho những người có lẽ là bất hạnh và tuyệt vọng nhất châu Âu.
Vincent đã lựa chọn cuộc sống giống như những con chiên của ông để chia
sẻ sự khó khăn với họ, ông ngủ trên chiếc nệm rơm trong một túp lều nhỏ
phía sau căn nhà của người làm bánh mỳ đã cho ông tá túc[6].
Tuy vậy những người quản lý giáo phận cuối cùng lại thải hồi ông vì lý
do "hạ thấp phẩm cách của một giáo sĩ" vì đã chọn cách sống nghèo khổ
như vậy.
Van Gogh chuyển về Brussels rồi lại đến làng Cuesmes ở Borinage trước khi phải quay về "nhà" ở Etten dưới sức ép của gia đình. Ông ở đây cho đến tháng 3 năm 1880.
Trong thời gian này nhiều mâu thuẫn đã nảy sinh giữa Vincent và cha,
cha của họa sĩ thậm chí còn yêu cầu ông phải vào một nhà thương điên[12] tại Geel[13]. Cuối cùng Vincent phải trốn về Cuesmes nơi ông trọ trong gia đình người thợ mỏ Charles Decrucq[14]
cho đến tháng 10. Càng ngày ông càng cảm thấy hứng thú với những con
người bình thường và cảnh vật xung quanh mình và bắt đầu ghi lại những
hình ảnh đó bằng những bức vẽ.
Năm 1880, theo đề nghị của người em trai Theo, Vincent bắt đầu theo nghiệp hội họa một cách nghiêm chỉnh. Mùa thu năm 1880, ông đến Bruxelles để theo học họa sĩ Hà Lan nổi tiếng Willem Roelofs, người đã thuyết phục Van Gogh thi vào Trường mỹ thuật Hoàng gia. Tại đó họa sĩ không chỉ được học về giải phẫu, mà còn biết thêm những quy tắc chuẩn trong việc dựng hình và phối cảnh.
Sự nghiệp


Etten (1881)


Tháng 4 năm 1881,
Van Gogh tới sống tại vùng đồng quê cùng gia đình ở Etten và tiếp tục
vẽ, ông thường lấy những người hàng xóm làm mẫu cho mình. Trong suốt
mùa hè, họa sĩ dành phần lớn thời gian đi dạo và nói chuyện với người
chị họ Kee Vos-Stricker và Johannes Stricker[9].
Kee hơn Vincent bảy tuổi và đã có một đứa con trai tám tuổi, tuy vậy
ông vẫn tìm cách cầu hôn và bị từ chối thẳng thừng: "Không, không bao
giờ, không bao giờ" (tiếng Hà Lan: niet, nooit, nimmer)[15]. Cuối năm 1881 ông đến Amsterdam để xin gặp Kee nhưng một lần nữa bị từ chối[16].
Trong tuyệt vọng, người họa sĩ đã giơ bàn tay trái hơ lên ngọn lửa đèn
và nói: "Hãy cho tôi nhìn thấy cô ấy chỉ trong thời gian tôi có thể để
tay trên ngọn lửa này"[16]. Bố của Van Gogh và cả Stricker phản đối quyết liệt ý định cưới Kee của ông và quyết định cắt trợ giúp tài chính. Đến Giáng sinh thì họa sĩ quyết định rời nhà đi Den Haag[17].
Drenthe và Den Haag (1881–1883)


Nhìn từ ban công ở Den Haag, màu nước



Tháng 1 năm 1882, Van Gogh đến Den Haag và sống với người họ hàng Anton Mauve,
một họa sĩ và cũng là người khuyến khích Vincent tiếp tục nghề vẽ. Tuy
vậy quan hệ của hai người nhanh chóng trở nên lạnh nhạt, có lẽ vì Mauve
phát hiện ra việc Vincent đi lại như vợ chồng với một cô gái điếm
nghiện rượu tên là Clasina Maria Hoornik (thường được biết đến với tên
Sien)[7]. Sien đã có một đứa con gái 5 tuổi và cô ta cũng đang mang thai trong lúc làm quen với Vincent. Ngày 2 tháng 7,
Sien sinh thêm một bé trai lấy tên là Willem. Khi cha của Van Gogh phát
hiện ra mối quan hệ này, ông đã liên tục gây sức ép buộc con mình phải
bỏ cô gái điếm và hai con của cô ta. Tuy vậy họa sĩ vẫn tiếp tục sống
với Sien.
Một người chú khác của Van Gogh là Cornelis, cũng là một nhà buôn
tranh, đã đặt hàng họa sĩ 20 bức vẽ mực về Den Haag, chúng được hoàn
thành vào cuối tháng 5[18]. Tháng 6 năm 1883, Van Gogh phải nằm viện ba tuần vì mắc bệnh lậu[19]. Đến mùa hè, họa sĩ bắt đầu sáng tác bằng sơn dầu.
Mùa thu năm 1883, sau một năm chung sống với Sien, Van Gogh bỏ cô và
hai đứa trẻ. Có thể vì thiếu tiền nên Sien buộc phải quay trở lại nghề mãi dâm,
cuộc sống của hai người trở nên ít hạnh phúc hơn và Vincent cảm thấy nó
không thể phù hợp cho sự phát triển về mặt nghệ thuật của mình. Sau khi
ông bỏ đi, Sien trao đứa con gái cho mẹ cô, còn cậu bé Willem được gửi
cho anh trai Sien, còn bản thân cô rời đến Delft và sau đó là Antwerp[6]. Sau này, Willem còn nhớ được rằng trong lần cậu được thăm mẹ ở Rotterdam năm lên 12 tuổi, khi bác của cậu cố khuyên Sien lấy chồng để Willem có cha, mẹ cậu đã trả lời rằng: "Nhưng
em biết cha của nó là ai. Cha của nó là một họa sĩ em từng chung sống
cách đây gần 20 năm ở Den Haag. Tên anh ấy là Van Gogh
"[6]. Năm 1904 Sien gieo mình xuống sông Scheldt tự vẫn[6].
Sau khi rời Den Haag, Van Gogh chuyển tới tỉnh Drenthe ở phía Bắc Hà Lan, ông sống một mình ở đây đến tháng 12 thì chuyển về sống với bố mẹ lúc này đang ở Nuenen, Bắc Brabant.
Nuenen (1883–1885)


Những người ăn khoai (1885)



Tại Nuenen, Van Gogh tập trung hết sức lực vào việc sáng tác. Mùa thu năm 1884,
con một người hàng xóm của họa sĩ là Margot Begemann, một cô gái hơn
Vincent tới 10 tuổi, đã phải lòng ông và Vincent cũng đáp lại tình cảm
này. Hai người đã hứa hôn với nhau nhưng chịu sự phản đối của cả hai
gia đình. Sau đó Margot cố tự tử bằng strychnine và Van Gogh phải vội đưa cô đến bệnh viện[6].
Ngày 26 tháng 3 năm 1885, cha của Van Gogh qua đời sau một cơn đột quỵ,
cái chết này đã gây ra nỗi buồn sâu sắc trong lòng họa sĩ. Cùng lúc đó,
giới nghệ thuật ở Paris lần đầu tiên đã quan tâm tới các tác phẩm của
Van Gogh, và chính họa sĩ trong mùa xuân năm 1885 đã hoàn thành tác
phẩm được coi là sáng tác chính đầu tay của ông, bức Những người ăn khoai (tiếng Hà Lan: De Aardappeleters).
Tháng 8 cùng năm, các tác phẩm của Van Gogh lần đầu tiên được triển lãm
tại Den Haag. Tháng 9, họa sĩ bị buộc tội đã làm một trong những mẫu
của mình có thai, và mặc dù về sau người này đã thừa nhận cha của đứa
trẻ không phải là Van Gogh[6] nhưng vị giáo sĩ của làng đã cấm dân làng không được tiếp tục làm mẫu cho Van Gogh.
Trong thời gian ở Nuenen, màu sắc ưa thích của Van Gogh là các tông
màu đất, đặc biệt là màu nâu tối, ông không cho thấy sự phát triển cách
dùng màu tươi sáng, phong cách xuất hiện ở các tác phẩm xuất sắc nhất
của ông sau này. Khi Vincent phàn nàn với Theo khi cho rằng em trai đã
không làm hết sức để có thể bán tranh của mình ở Paris, Theo đã trả lời
rằng các tác phẩm của Van Gogh quá u tối và nằm ngoài phong cách phổ
biến thời đó là các bức họa tươi vui của các họa sĩ theo trường phái Ấn tượng. Làm việc hai năm ở Nueen, họa sĩ đã sáng tác rất nhiều bức vẽ và màu nước, ngoài ra còn có gần 200 bức họa hoàn chỉnh.
Antwerp (1885–1886)


Tháng 11 năm 1885 Van Gogh chuyển tới Antwerp và thuê một căn buồng nhỏ phía trên một cửa hiệu bán tranh ở phố Rue des Images[7].
Họa sĩ có rất ít tiền và ăn uống đạm bạc, ông dành phần lớn số tiền
Theo gửi cho để mua vật liệu sáng tác và trả tiền cho người mẫu. Bánh
mỳ, cà phê và thuốc lá là những thứ Vincent dùng thường xuyên nhất.
Tháng 2 năm 1886,
Van Gogh viết thư cho Theo kể lại chuyện ông nhớ mình được ăn thịt nóng
lần cuối là từ tháng 5 năm trước đó và hàm răng của họa sĩ bắt đầu yếu
dần gây ra nhiều đau đớn[7].
Ngoài thời gian sáng tác, Van Gogh nghiên cứu thêm về lý thuyết màu
sắc và đi chiêm ngưỡng các tác phẩm tại bảo tàng thành phố, đặc biệt là
các bức tranh của Peter Paul Rubens, những tác phẩm đã khích lệ họa sĩ trong việc dùng các màu sắc tươi sáng hơn như màu son, màu xanh cô ban và màu xanh lục. Ông cũng mua một số bức tranh khắc gỗ của Nhật Bản (Ukiyo-e) và sử dụng nó làm nền cho một số tác phẩm của mình[20]. Trong thời gian này ông cũng bắt đầu nghiện rượu absinthe[7] và còn phải chữa bệnh (rất có thể là giang mai[21][6]) dưới sự điều trị của bác sĩ Cavenaile.
Tháng 1 năm 1886, Van Gogh trúng tuyển vào Trường Mỹ thuật Antwerp (Ecole des Beaux-Arts d'Antwerp). Trong phần lớn tháng 2 họa sĩ bị ốm, phần lớn là do lao lực, ăn uống kém và hút quá nhiều thuốc.
Paris (1886–1888)


Số 54 phố Rue Lepic, Paris



Tháng 3 năm 1886, họa sĩ chuyển tới Paris để học tại xưởng vẽ của Fernand Cormon. Ban đầu ông và Theo ở tại đường Rue Laval trong khu đồi Montmartre.
Đến tháng 6 thì hai anh em chuyển về một căn hộ rộng hơn ở số 54 phố
Rue Lepic, nằm ở phía trên đồi. Vì thời gian này hai anh em ở gần nhau,
các bức thư liên lạc giữa hai người không còn và người ta không biết rõ
những hoạt động của họa sĩ trong thời gian ông ở Paris.
Vincent làm việc vài tháng trong xưởng vẽ của Cormon nơi ông thường tiếp xúc với họa sĩ người Úc John Peter Russell cũng như hai họa sĩ người Pháp là Émile Bernard và đặc biệt là Henri de Toulouse-Lautrec.
Trong thời gian này ở Paris, không khó để chiêm ngưỡng và nghiên cứu
tác phẩm của các họa sĩ theo trường phái Ấn tượng. Ví dụ năm 1886,
hai triển lãm lớn của các họa sĩ tiên phong trong trường phái này đã
được tổ chức ở thủ đô nước Pháp, đó là Triển lãm lần thứ 8 và cuối cùng
của các họa sĩ Ấn tượng và Triển lãm của các họa sĩ độc lập (Artistes Indépendants). Trong hai cuộc trưng bày này, lần đầu tiên chủ nghĩa Tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ra mắt công chúng với các bức tranh của Georges SeuratPaul Signac. Bản thân Theo van Gogh cũng buôn bán rất nhiều bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng của các họa sĩ nổi danh như Claude Monet, Alfred Sisley, Edgar DegasCamille Pissarro,
tuy vậy Vincent rõ ràng là gặp khó khăn trong việc nắm bắt tinh thần
của các tác phẩm đang được ưa chuộng này. Bắt đầu có những mâu thuẫn
giữa hai anh em và đến cuối năm 1886 thì hai người bắt đầu sống riêng
nhưng rồi lại nhanh chóng làm lành vào mùa xuân năm 1887.
Sau đó Van Gogh đến Asnières và làm quen với Paul Signac. Tại đây Vincent cùng người bạn của ông là Emile Bernard đã thử nghiệm một số bức tranh theo trường phái Điểm họa ("pointillé").
Tháng 11 năm 1887, Theo và Vincent đã gặp và kết bạn với họa sĩ Paul Gauguin, người vừa mới quay lại Paris sau thời gian sống ở nước ngoài[22].
Cuối năm này, Van Gogh đã tổ chức một buổi triển lãm chung với Bernard,
Anquetin và Toulouse-Lautrec ở nhà hàng Restaurant du Chalet trên đồi
Montmartre. Tại buổi triển lãm này, Bernard và Anquetin đã bán được các
tác phẩm đầu tiên, còn Vincent thì trao đổi được tác phẩm với Gauguin,
người ngay sau đó đã rời đi Pont-Aven.
Tháng 2 năm 1888,
cuối cùng Van Gogh cũng cảm thấy chán ngán cuộc sống ở Paris, ông rời
Kinh đô Ánh sáng sau khi đã hoàn thành hơn 200 bức họa trong 2 năm ở
đây. Chỉ vài giờ trước khi rời thành phố, ông cùng Theo đã có chuyến
thăm lần đầu tiên và cũng là duy nhất đến nhà của họa sĩ Seurat[23].
Quán cà phê đêm ở Arles, tháng 9 năm 1888
Về Đầu Trang Go down
kachiusa
THÀNH VIÊN 15
THÀNH VIÊN 15
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 72
Thanks! : 2
Join date : 17/10/2009
Age : 29

Bài gửiTiêu đề: Re: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   20/10/2009, 1:02 am

Arles (tháng 2 năm 1888–tháng 5 năm 1889)


Ngày 21 tháng 2 năm 1888, Van Gogh đến Arles. Trong hai tháng, ông làm việc cùng họa sĩ người Đan Mạch Christian Mourier-Petersen. Ngày 1 tháng 5, họa sĩ ký hợp đồng thuê một căn hộ bốn buồng với giá 15 franc một tháng nằm bên phải của Nhà Vàng tại số 2 Quảng trường Lamartine. Tháng 6, Van Gogh đi thăm thị trấn ven biển Saintes-Maries-de-la-Mer. Tại đây ông nhận dạy vẽ cho một sĩ quan tên là Paul-Eugène Milliet, người sau đó cũng trở thành bạn của họa sĩ. Từ tháng 8, ông bắt đầu sáng tác về đề tài hoa hướng dương.
Ngày 23 tháng 10, Gauguin
đến Arles theo lời mời của Van Gogh. Trong suốt tháng 11 hai họa sĩ làm
việc cùng nhau, cũng trong tháng này Van Gogh đã sáng tác bức tranh nổi
tiếng Cánh đồng nho đỏ. Tháng 12 cả hai họa sĩ đi thăm Montpellier và chiêm ngưỡng các tác phẩm của CourbetDelacroix
trong bảo tàng Museé Fabre. Tuy nhiên sau đó tình bạn của hai người trở
nên xấu đi vì những xung đột về nghệ thuật. Van Gogh sợ rằng Gauguin sẽ
rời bỏ ông, căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào ngày 23 tháng 12 năm 1888
khi Vincent đuổi theo Gauguin với một lưỡi dao cạo trong tay và sau đó
lại tự cắt phần dưới tai trái của chính mình, gói nó vào một tờ báo,
đưa cho cô gái điếm Rachel ở nhà thổ trong vùng và yêu cầu cô này giữ
cẩn thận. Cuối cùng thì Gauguin vẫn rời Arles và không bao giờ gặp lại
Van Gogh một lần nữa. Vincent phải nhập viện trong tình trạng nguy
kịch, ông ngay lập tức được Theo đến thăm nom. Tháng 1 năm 1889, Van Gogh trở lại "Nhà Vàng" nhưng liên tục phải đến bệnh viện vì gặp ảo giác, ông còn mắc chứng hoang tưởng
khi nghĩ mình bị đầu độc. Đến tháng 3, sau khi nhận được yêu cầu từ
những người hàng xóm, cảnh sát đã quyết định đóng cửa ngôi nhà của Van
Gogh. Đến tháng 4 thì ông dọn về căn phòng của bác sĩ Rey sau khi những
trận lụt làm hư hại các tác phẩm của ông.
Saint-Rémy (tháng 5 năm 1889–tháng 5 năm 1890)


Đêm đầy sao, tháng 6 năm 1889



Ngày 8 tháng 5 năm 1889 Van Gogh phải nhập viện tại bệnh viện tâm thần Saint-Paul-de-Mausole nằm trong một tu viện cũ ở Saint Rémy de Provence không xa Arles. Tu viện nằm cách biệt với thị trấn và ở giữa những cánh đồng ngô, nhoô liu.
Theo van Gogh sắp xếp cho anh trai có hai buồng nhỏ trong bệnh viện,
một buồng giành riêng làm xưởng vẽ. Trong thời gian chữa trị tại đây,
phòng khám và khu vườn của bệnh viện đã trở thành những đề tài chính
của họa sĩ. Một số tác phẩm của Van Gogh trong thời kỳ này có đặc trưng
là các xoáy ốc, tiêu biểu là bức tranh nổi tiếng Đêm đầy sao. Trong tháng 9, họa sĩ thực hiện hai phiên bản mới của bức Phòng ngủ ở Arles và đến tháng 2 năm 1890 thì ông vẽ bốn bức chân dung có tên L'Arlésienne (Người Arles, chỉ bà Ginoux), dựa trên những phác thảo bằng chì than của Gauguin.
Tháng 1 năm 1890, tác phẩm của Van Gogh được Albert Aurier ca ngợi tại trên tạp chí Mercure de France, nhà phê bình này đã gọi Vincent là một thiên tài. Trong tháng 2, Van Gogh được nhóm Les XX, một tập hợp các họa sĩ tiên phong ở Brussels,
mời tham gia triển lãm tranh thường niên của nhóm. Sau đó, khi tranh
của Van Gogh được trưng bày trong triển lãm của nhóm Nghệ sĩ Độc lập (Les Artistes Indépendants) ở Paris, Monet đã nhận xét rằng tác phẩm của Vincent là tuyệt vời nhất trong cả triển lãm[24].
Auvers-sur-Oise (tháng 5 đến tháng 7 năm 1890)


Vincent van Gogh, tranh phấn màu của Toulouse-Lautrec, 1887



Tháng 5 năm 1890, Van Gogh rời bệnh viện và đến trị liệu với bác sĩ Paul GachetAuvers-sur-Oise, nằm gần Paris, nơi ông có thể ở gần hơn với em trai Theo. Bác sĩ Gachet được Camille Pissarro
giới thiệu cho anh em Van Gogh vì trước đó ông này đã từng chữa cho một
số họa sĩ và bản thân cũng là một họa sĩ nghiệp dư. Ấn tượng đầu tiên
của Vincent về Gachet là "ông ta trông còn ốm yếu hơn cả tôi"[25].
Sau đó Van Gogh đã vẽ hai bức chân dung bác sĩ bằng màu dầu, một bức
khác khắc axit, cả ba bức đều miêu tả Gachet trong một tư thế u sầu.
Trong tuần cuối ở Saint-Rémy, Van Gogh lại nhớ lại những kỷ niệm ở
phương Bắc[26] và một số trong khoảng 70 bức tranh ông vẽ trong 70 ngày ở Auvers-sur-Oise, như bức Nhà thờ ở Auvers đã gợi đến những phong cảnh ở phương Bắc.
Tình trạng bệnh lý của Van Gogh ngày càng trầm trọng, ngày 27 tháng 7 năm 1890, ở tuổi 37, người họa sĩ đã bước ra cánh đồng và tự bắn vào ngực bằng một khẩu súng lục. Không nhận ra rằng mình đã bị thương nặng, Vincent quay trở lại hoàn thành bức tranh Chân dung Adeline Ravoux. Hai ngày sau ông qua đời trên giường ngủ, câu cuối cùng mà Theo nghe được từ miệng anh trai mình là:

"La tristesse durera toujours" - "Nỗi buồn sẽ kéo dài mãi mãi"
Vincent được chôn tại nghĩa trang của vùng Auvers-sur-Oise[27]. Không lâu sau cái chết của anh trai, Theo cũng nhập viện, ông mất ngày 25 tháng 1 năm 1891 tại Utrecht, chỉ 6 tháng sau cái chết của Vincent. Năm 1914, Theo được cải táng về bên cạnh người anh trai yêu quý của ông.
Quá trình sáng tác


Tĩnh vật với absinthe, 1887



Van Gogh bắt đầu vẽ các bức màu nước từ khi còn đi học, tuy vậy rất
ít tác phẩm thời kì này còn được lưu giữ đến ngày nay. Khi thực sự bắt
đầu làm họa sĩ (năm 1880),
Van Gogh đi lại từ bước cơ bản, đó là chép bức tranh "Cours de dessin".
Trong suốt hai năm đầu họa sĩ phải đi tìm đơn đặt hàng cho mình, mãi
đến mùa xuân năm 1882,
người chú Cornelis Marinus của Van Gogh mới đề nghị ông vẽ các bức
tranh về Den Haag để bán trong phòng tranh ở Amsterdam. Mặc dù công
việc không được như Cornelis mong muốn, Van Gogh vẫn được đặt hàng thêm
và một lần nữa làm thất vọng chú của mình.
Dù sao thì Van Gogh vẫn tiếp tục nghề họa sĩ, ông cải thiện việc
chiếu sáng cho xưởng vẽ và thử nghiệm với các chất liệu vẽ khác nhau.
Sau hơn một năm lao động miệt mài chỉ với những bức tranh "trắng và
đen", cuối cùng người ta cũng công nhận khả năng của Vincent ở thể loại
này. Mùa xuân năm 1883,
Van Gogh bắt đầu thực hiện các bức tranh phức tạp hơn, ngay khi Theo
nhận xét rằng các tác phẩm đó thiếu sự sinh động và tươi mới, Vincent
đã tiêu hủy chúng và tập trung vào sơn dầu. Cũng thời gian này, Vincent
đến tham khảo các họa sĩ thuộc Trường phái Den Haag như WeissenbruchBlommers, ông nhận được những lời khuyên về mặt kĩ thuật để sau đó khi đến Nuenen, Van Gogh đã có thể thực hiện các bức vẽ khổ lớn. Đa số các tác phẩm này đã bị chính họa sĩ tiêu hủy, bức Những người ăn khoai nổi tiếng là một trong số rất ít các tác phẩm còn xót lại của thời kì này. Sau chuyến thăm Bảo tàng Rijksmuseum ở Amsterdam, Vincent nhận ra rằng những thiếu sót trong các tác phẩm của ông là do sự thiếu kinh nghiệm trong kĩ thuật vẽ, họa sĩ đã đến Antwerp và sau đó là Paris để trau dồi thêm kĩ năng này.
Sau khi học hỏi được kĩ thuật và kinh nghiệm từ những họa sĩ theo trường phái Ấn tượngTân ấn tượng,
Van Gogh tới Arles để phát triển các tác phẩm theo hướng này. Nhưng chỉ
trong một thời gian ngắn, những ý tưởng cũ về nghệ thuật và tác phẩm
lại xuất hiện trong đầu họa sĩ. Đó là ý tưởng về việc thực hiện những
loạt tác phẩm về các chủ đề có liên quan hoặc tương phản nhau để phản
ánh suy nghĩ của người sáng tác.
Hồ sơ bệnh tật


Mộ của Vincent và Theo van Gogh tại nghĩa trang Auvers-sur-Oise



Van Gogh thường xuyên gặp phải các vấn đề về thần kinh, đặc biệt
trong những năm cuối đời. Đã có rất nhiều cuộc tranh luận nổ ra trong
việc tìm nguyên nhân thực sự cho chứng bệnh thần kinh của họa sĩ và tác
động của nó lên các tác phẩm của ông. Người ta đã đưa ra khoảng 30 chẩn
đoán khác nhau cho triệu chứng bệnh của Van Gogh[28], trong đó phải kể tới chứng tâm thần phân liệt, rối loạn chức năng, giang mai, ngộ độc màu vẽ, động kinh và rối loạn chuyển hóa porphyrine
cấp tính. Bất kì chứng bệnh nào trong số trên cũng có thể là thủ phạm
dẫn tới sự suy nhược thần kinh của họa sĩ, tình trạng của ông còn bị
làm trầm trọng thêm do ăn uống thiếu chất, lao lực, mất ngủ và nghiện
rượu, nhất là rượu absinthe.
Cũng có nhiều giả thuyết y học được đưa ra để giải thích việc Van
Gogh ưa dùng màu vàng trong các bức tranh của ông. Một giả thuyết cho
rằng việc này có thể xuất phát từ chứng nghiện absinthe của Van Gogh,
trong loại rượu này có chứa một loại neurotoxin tên là thujone. Việc hấp thụ thujone với liều cao có thể dẫn tới chứng thấy sắc vàng (xanthopsia). Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu năm 1991
đã chỉ ra rằng những người nghiện absinthe sẽ phải trở nên gần như vô
thức nếu hấp thụ đủ lượng thujone gây chứng thấy sắc vàng. Cũng có giả
thuyết cho rằng bác sĩ Gachet có thể đã kê đơn cho Van Gogh dùng mao địa hoàng (digitalis)
để chữa chứng động kinh của ông. Việc này được suy đoán từ những bức
chân dung bác sĩ Gachet của Van Gogh, bên cạnh người mẫu thường có vài
cây hoa mao địa hoàng. Người dùng mao địa hoàng với liều lớn có thể dẫn
tới triệu chứng quan sát thấy những điểm màu vàng có quầng xung quanh
(giống như trong bức Đêm đầy sao)[29].
Người ta còn đưa ra một giả thuyết cho thể trạng yếu của họa sĩ, đó là do ngộ độc chì. Các màu vẽ mà Van Gogh thường dùng đều có gốc chì, và một trong các triệu chứng của nhiễm độc chì đó là căng võng mạc dẫn tới thường xuyên nhìn thấy các quầng sáng, một đặc điểm thường thấy trong các tác phẩm cuối đời của họa sĩ[30].
Di sản và đánh giá


Chân dung Bác sĩ Gachet, từng được bán với giá 82,5 triệu USD



Van Gogh chết trong cảnh nghèo túng và chỉ mới có một chút danh
tiếng trong giới nghệ thuật châu Âu. Tuy vậy các sáng tác của ông về
sau đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các họa sĩ sau này, đặc biệt là các họa
sĩ thuộc trường phái Dã thú (Fauvism) như Henri Matisse và các họa sĩ thuộc trường phải Biểu hiện Đức thuộc nhóm Die Brücke. Chủ nghĩa Biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật thập niên 1950 cũng bắt nguồn từ việc phát triển các ý tưởng sáng tác của Van Gogh.
Năm 2004, trong Danh sách những người Hà Lan vĩ đại nhất trong lịch sử (De Grootste Nederlander) do đài KRO tổ chức, Vincent van Gogh được xếp thứ 10 và là nghệ sĩ có thứ hạng cao thứ 2 trong danh sách (sau họa sĩ Rembrandt xếp thứ 9)[31].
Các họa phẩm đắt giá


Sau khi mất, tranh của Van Gogh rất được các bảo tàng nghệ thuật và nhà sưu tầm cá nhân ưa thích, đặc biệt là trong thập niên 19801990. Khi đó tác phẩm của Van Gogh liên tục phá kỉ lục thế giới về giá bán, có thể kể tới các bức[32]:

Tên tác phẩmThời gian
sáng tác
Năm
bán
Giá gốc
(triệu USD)
Giá quy đổi[33]
(triệu USD)
Chân dung Bác sĩ Gachet
(Portrait du Dr. Gachet)
1890199082,5129,7
Hoa diên vĩ
(Iris)
1898198753,997,5
Chân dung tự họa
(Portrait de l'artiste sans barbe)
1889199371,590,1
Cánh đồng lúa mỳ và cây trắc bá
(Champ de blé avec cyprès)
188919935781,1
Hoa hướng dương
(Les Tournesols)
1888198739,771,8
Chân dung một phụ nữ trước cánh đồng lúa mì
(Portrait de jeune paysanne assise devant un champ de blé)
1890199747,560,8
Van Gogh trong văn hóa đương đại



  • Năm 1934 nhà văn Irving Stone cho ra đời tiểu thuyết Lust for Life kể về cuộc đời của Vincent van Gogh. Cuốn tiểu thuyết này vào năm 1956 đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên do Vincente MinnelliGeorge Cukor đạo diễn. Người vào vai Van Gogh là ngôi sao điện ảnh Kirk Douglas còn vai Paul Gauguin được giao cho Anthony Quinn. Với vai diễn này Quinn đã giành Giải Oscar Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất.
  • Năm 1971, nhạc sĩ và ca sĩ Don McLean đã sáng tác bài hát nổi tiếng Vincent để tưởng nhớ đến Van Gogh, câu mở đầu của bài hát, "Starry Starry Night" được lấy cảm hứng từ bức tranh nổi tiếng Đêm đầy sao (tiếng Anh: The Starry Night) của họa sĩ.
  • Năm 1990 câu chuyện về tình anh em giữa Vincent và Theo van Gogh được đạo diễn Robert Altman đưa vào bộ phim Vincent & Theo trong đó vai Vincent và Theo lần lượt do Tim RothPaul Rhys thủ vai.
Về Đầu Trang Go down
kachiusa
THÀNH VIÊN 15
THÀNH VIÊN 15
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 72
Thanks! : 2
Join date : 17/10/2009
Age : 29

Bài gửiTiêu đề: Re: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   20/10/2009, 1:03 am

Pablo Picasso

Pablo Ruiz Picasso (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1881, mất ngày 8 tháng 4 năm 1973), thường được biết tới với tên Pablo Picasso hay Picasso là một họa sĩnhà điêu khắc người Tây Ban Nha.
Tên đầy đủ của ông là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan
Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad
Clito Ruiz y Picasso[1]. Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của
thế kỉ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họađiêu khắc.Ông
là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn
nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố.
[2]

Tiểu sử
Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Málaga, miền nam Tây Ban Nha. Picasso là con đầu lòng của ông José Ruiz y Blasco và bà María Picasso y López.
Ông được đặt tên thánh là Pablo, Diego, José, Francisco de Paula, Juan
Nepomuceno, Maria de los Remedios và Cipriano de la Santísima Trinidad[sup][3]
.[/sup]

Ngay
từ khi còn nhỏ, Picasso đã bộc lộ sự say mê và năng khiếu trong lĩnh
vực hội họa, theo mẹ ông kể lại thì từ đầu tiên mà cậu bé Pablo nói
được chính là "piz", cách nói tắt của từ "lápiz", trong
tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là bút chì[sup][4]
. Cha của Picasso là một họa sĩ chuyên vẽ chim theo trường phái hiện thực, ông José còn là một giảng viên nghệ thuật và phụ trách bảo tàng địa phương, trường Mỹ thuật công nghệ tạo hình của Barcelona. Vì vậy, Picasso có được những bài học đầu tiên về nghệ thuật chính từ cha mình.[/sup]

Vào Học viện mỹ thuật (Academia de San Fernando) tại Madrid được chưa đầy một năm, năm 1900 Picasso đã bỏ học để sang Paris, trung tâm nghệ thuật của Châu Âu thời kỳ đó. Tại thủ đô nước Pháp, ông sống cùng Max Jacob, một nhà báo và nhà thơ, người đã giúp Pablo học tiếng Pháp.
Đây là giai đoạn khó khăn của người họa sĩ trẻ khi ông phải sống trong
cảnh nghèo túng, lạnh lẽo và đôi khi tuyệt vọng, phần lớn tác phẩm của
Pablo đã phải đốt để sưởi ấm cho căn phòng nhỏ của hai người. Năm
1901, cùng với người bạn Soler, Picasso đã thành lập tờ tạp chí Arte Joven ở Madrid. Số đầu tiên của tạp chí hoàn toàn do Pablo minh họa.

Trong những năm đầu của thế kỉ 20, Picasso thường xuyên qua lại giữa hai thành phố BarcelonaParis. Tại Paris, Picasso kết bạn với rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng ở khu MontmartreMontparnasse, trong đó có người sáng lập trường phái siêu thực André Breton, nhà thơ Guillaume Apollinaire và nhà văn Gertrude Stein. Năm 1911, Picasso và Apollinaire thậm chí đã từng bị bắt giữ vì bị nghi ăn trộm bức tranh Mona Lisa khỏi Bảo tàng Louvre nhưng cuối cùng hai người cũng được tha vì vô tội[sup][5].[/sup]
Đời tư


Năm 1904,
ông bắt đầu mối quan hệ lâu dài với Fernande Olivier, người phụ nữ xuất
hiện trong rất nhiều tác phẩm Thời kỳ Hồng của họa sĩ. Thời kỳ này được
gọi là Thời kỳ Hồng vì đây là thời kỳ ông toàn dùng màu hồng nhạt mềm
mại để làm nền tranh cho mình, thời kỳ Hồng của ông được tồn tại trong
3 năm. Sau khi bắt đầu nổi tiếng và trở nên giàu có, Picasso đã bỏ
Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert mà ông gọi đơn giản là Eva, chủ
đề của rất nhiều bức tranh theo trường phái
lập thể
của ông. Sau đó ông còn đi lại với nhiều người phụ nữ khác mặc dù đã có
vợ và con. Picasso đã hai lần làm đám cưới và ông có bốn đứa con với ba
người phụ nữ. Năm
1918, họa sĩ cưới cô Olga Khokhlova, một nữ diễn viên ba lê của đoàn ba lê Sergei Diaghilev mà Picasso đã từng nhận trang trí cho họ vở ParadeRoma.
Khokhlova đã giới thiệu Picasso với tầng lớp trên của nước Pháp trong
những buổi tiệc tùng và gặp gỡ của những người giàu có ở Paris trong
thập niên 1920. Hai người cũng có với nhau một đứa con, Paulo, sau này
trở thành một tay đua xe phóng đãng và là tài xế cho chính họa sĩ. Cuộc
hôn nhân giữa Picasso và Khokhlova nhanh chóng chấm dứt, tuy vậy trên
danh nghĩa hai người chỉ ly thân cho đến tận khi Khokhlova qua đời năm
1955 vì theo luật pháp Pháp, Picasso sẽ phải chia đôi tài sản cho vợ nếu chính thức ly dị. Năm 1927 Picasso gặp cô gái 17 tuổi Marie-Thérèse Walter
và bắt đầu đi lại bí mật với cô. Với Marie-Thérèse, Picasso cũng có một
người con gái, Maia. Marie-Thérèse luôn sống với hy vọng hão huyền rằng
người họa sĩ nổi tiếng sẽ lấy cô làm vợ và cô đã treo cổ tự vẫn bốn năm
sau cái chết của Picasso. Nhà nhiếp ảnh và họa sĩ
Dora Maar
cũng là một người tình lâu năm của Picasso, hai người đặc biệt gắn bó
trong giai đoạn cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940.

Sau khi Paris được giải phóng năm 1944, Picasso bắt đầu quan hệ với một sinh viên nghệ thuật trẻ là Françoise Gilot. Françoise và Picasso có chung với nhau hai đứa con, Claude và Paloma. Khác với những người tình khác của họa sĩ, chính Françoise là người rời bỏ Pablo năm 1953.
Đây là một cú sốc với Picasso, ông nghĩ rằng mình đã già và trở nên kỳ
cục trong mắt phụ nữ, Một vài tác phẩm của ông thời kỳ cuối đã khai
thác đề tài này khi miêu tả một người lùn già nua gớm ghiếc đối lập với
một cô gái trẻ đẹp. Tuy vậy không lâu sau người họa sĩ cũng tìm được
một người tình khác, đó là Jacqueline Roque. Roque làm việc tại xưởng
gốm Madoura, nơi Picasso thực hiện các tác phẩm bằng gốm của ông. Hai
người duy trì mối quan hệ suốt phần đời còn lại của Picasso, họ cưới
nhau năm
1961.
Đám cưới này cũng là một sự trả thù của họa sĩ đối với người tình cũ
Gilot. Gilot khi đó đang tìm cách hợp pháp hóa quan hệ cha con của
Picasso với Claude và Paloma. Được Picasso thúc đẩy, cô đã sắp đặt việc
ly dị với chồng là Luc Simon để cưới Picasso, qua đó bảo vệ quyền lợi
cho con chung của hai người. Tuy nhiên Picasso đã bí mật làm đám cưới
với Roque ngay sau khi Gilot hoàn thành thủ tục ly hôn, họa sĩ coi đây
là sự trả thù của ông với việc Gilot đã rời bỏ mình năm 1953.

Pablo Picasso từ trần ngày 8 tháng 4 năm 1973 tại Mougins, Pháp,
trong khi ông cùng bà Jacqueline đang chủ trì một buổi tiệc với bạn bè.
Tác phẩm ông để lại gồm có 1800 bức tranh sơn dầu, 3 vạn bản tranh,
7000 bức ký họa phác thảo và có khá nhiều tác phẩm khó hiểu. Picasso
được an táng tại công viên Vauvenargues ở
Vauvenargues, Bouches-du-Rhône. Jacqueline Roque đã ngăn cản hai đứa con của ông là Claude và Paloma tham gia tang lễ cha mình[sup][6]
.[/sup]

Xu hướng chính trị



Bức tranh màu phấn Autoportrait à la palette (Bức tự họa với bảng màu), mùa thu năm 1906



Picasso tỏ ra trung lập trong suốt Thế chiến thứ nhất, Nội chiến Tây Ban NhaThế chiến thứ hai,
họa sĩ từ chối ủng hộ bất cứ bên tham chiến nào. Trong Nội chiến Tây
Ban Nha, tuy thể hiện sự phẫn nộ và phản đối chế độ của tướng
Francisco Francochủ nghĩa phát xít qua các tác phẩm của mình, Picasso không hề cầm vũ khí chống lại chế độ này.

Năm 1944, Picasso gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia một hội nghị hòa bình quốc tế tổ chức ở Ba Lan. Năm 1950, họa sĩ được nhận Giải thưởng hòa bình Stalin của chính phủ Liên Xô[sup][7]. Năm 1962, ông được nhận một giải thưởng lớn khác của nhà nước Xô viết, đó là Giải thưởng hòa bình Lenin[8].[/sup]
Tác phẩm


Các
tác phẩm của Picasso thường được phân loại theo các thời kỳ khác nhau.
Tuy rằng tên gọi các thời kỳ sáng tác sau này của họa sĩ còn gây nhiều
tranh cãi, người ta phần lớn đều chấp nhận cách phân chia thời kỳ đầu
sáng tác của Picasso thành Thời kỳ Xanh (1901–1904), Thời kỳ Hồng
(1904–1906), Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909), Thời
kỳ
Lập thể phân tích (1909–1912) và Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919).

Trước 1901


Picasso bắt đầu tập vẽ dưới sự hướng dẫn của cha ông từ năm 1890. Sự tiến bộ trong kỹ thuật của họa sĩ có thể thấy trong bộ sưu tập các tác phẩm thời kì đầu ở Bảo tàng Museu Picasso tại Barcelona. Có thể thấy chủ nghĩa hiện thực hàn lâm trong các tác phẩm thời kì đầu này, tiêu biểu là bức The First Communion (1896). Cũng năm 1896, khi mới 14 tuổi, Picasso đã hoàn thành tác phẩm Portrait of Aunt Pepa (Chân dung dì Pepa),
một bức chân dung gây ấn tượng sâu sắc đến mức Juan-Eduardo Cirlot đã
đánh giá rằng "không nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những tác phẩm
lớn nhất trong lịch sử hội họa Tây Ban Nha"[sup][9]
.[/sup]

Năm 1897, chủ nghĩa hiện thực của Picasso bắt đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, thể hiện qua một loạt các bức tranh phong cảnh sử dụng tông màu xanh lá cây và tím không tự nhiên.
Thời kỳ Xanh (1901–1904)


Trong
thời kỳ này, tác phẩm của Picasso có tông màu tối hơn với màu chủ đạo
là xanh thẫm, đôi khi được làm ấm hơn bởi các màu khác. Mốc bắt đầu của
Thời kỳ Xanh không rõ ràng, nó có thể bắt đầu từ mùa xuân năm
1901 ở Tây Ban Nha, hoặc ở Paris nửa cuối năm đó[sup][10]
. Có lẽ cách dùng màu của họa sĩ chịu ảnh hưởng từ chuyến đi xuyên Tây Ban Nha và sự tự sát của người bạn Carlos Casagemas.[/sup]

Thời kỳ Hồng (1905–1907)


Các tác phẩm của Picasso trong giai đoạn này mang vẻ tươi tắn hơn với việc sử dụng nhiều màu cam và hồng. Năm 1904
tại Paris, Picasso gặp Fernande Olivier, một người mẫu cho các họa sĩ
và nhà điêu khắc, rất nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này chịu ảnh
hưởng bởi mối quan hệ nồng ấm giữa hai người.

Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu (1908–1909)


Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô nàng ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon)
lấy cảm hứng từ những đồ tạo tác Phi châu. Ông cho rằng mọi loại nghệ
thuật phải tự học được cái hay của nhau. Ông chọn châu Phi làm cản hứng
của mình bởi tính Lập thể rõ ràng của nó.

Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912)


Chủ nghĩa Lập thể phân tích là phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển cùng Georges Braque
theo đó sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho các tác phẩm. Các vật thể
sẽ được hai họa sĩ tách thành những bộ phận riêng biệt và "phân tích"
chúng theo hình dạng bộ phận này.

Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919)


Đây
là sự phát triển chủ nghĩa lập thể của Picasso với việc sử dụng nghệ
thuật cắt dán bằng các chất liệu vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả
đề tài tĩnh vật và nhân vật.

Chủ nghĩa cổ điển và siêu thực


Sau Thế chiến thứ nhất, Picasso bắt đầu thực hiện các tác phẩm theo trường phái tân cổ điển (neoclassicism). Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Picasso, bức Guernica đã được sáng tác trong thời kì này. Bức tranh mô tả cuộc ném bom vào Guernica của phát xít Đức trong Nội chiến Tây Ban Nha.
Giai đoạn sau



Tác phẩm điêu khắc của Picasso tại Chicago



Picasso là một trong 250 nhà điêu khắc tham gia Triểm lãm điêu khắc quốc tế lần thứ 3 tổ chức tại Bảo tàng mỹ thuật Philadelphia vào mùa hè năm 1949.
Trong
thập niên 1950, họa sĩ một lần nữa thay đổi phong cách sáng tác, ông
thực hiện các bức tranh dựa trên phong cách của các bậc thầy cổ điển
như
Diego Velázquez, Goya, Poussin, Édouard Manet, CourbetDelacroix.

Di sản


Khi
Picasso qua đời, rất nhiều tác phẩm do họa sĩ sáng tác vẫn thuộc quyền
sở hữu của ông vì Picasso cảm thấy không cần thiết phải bán chúng. Thêm
vào đó, ông còn có một bộ sưu tập rất giá trị các tác phẩm của những
họa sĩ yêu thích như
Henri Matisse.
Vì Picasso không để lại di chúc, một phần bộ sưu tập này được dùng để
trả thuế cho chính phủ Pháp và nó được trưng bày tại Bảo tàng
Musée Picasso
tại Paris. Năm 2003, những người thân của họa sĩ đã cho khánh thành một
bảo tàng tại thành phố quê hương ông, Málaga, đó là Bảo tàng
Museo Picasso Málaga.

Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới:
  • Bức "Nude on a black armchair" - được bán với giá 45,1 triệu USD năm 1999.
  • Bức Les Noces de Pierrette - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999.
  • Bức Garçon à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ngày 4 tháng 5 năm 2004 đã lập kỉ lục thế giới về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.
  • Bức Dora Maar au Chat - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ngày 3 tháng 5 năm 2006
    Về Đầu Trang Go down
    ruoitrau
    THÀNH VIÊN 200
    THÀNH VIÊN 200
    avatar

    Tổng số bài gửi : 226
    Thanks! : 1
    Join date : 05/09/2009

    Bài gửiTiêu đề: Re: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   20/10/2009, 7:16 am

    bạn Kachiusa nhớ ghi nguồn để các bạn biết tới lấy tư liệu nhé
    Về Đầu Trang Go down
    http://taodang3.forumotion.net
    Sponsored content




    Bài gửiTiêu đề: Re: Tài liệu Mỹ thuật thế giới   

    Về Đầu Trang Go down
     
    Tài liệu Mỹ thuật thế giới
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang
     Similar topics
    -
    » Những bài thuốc chữa nghẹt mũi
    » Những phương thuốc Dân gian
    » THUẬN NGHỊCH ĐỘC & vỸ TAM THANH
    » Nghệ thuật làm dâu
    » ẢO THUẬT

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
     :: TRAO DỔI KINH NGHIỆM (open forum) :: QUÁN CÓC :: HỘI HỌA-
    Chuyển đến