Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
solsol
THÀNH VIÊN 100
THÀNH VIÊN 100
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 159
Thanks! : 5
Join date : 05/09/2009
Age : 30
Đến từ : HN

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng   6/9/2009, 8:32 am

Vị trí địa lý

Xã Bát Tràng (缽塲社) gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc
huyện Gia Lâm, Hà Nội. Trước đây thôn Bát Tràng là một xã riêng. Thời
nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh
Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc
Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh. Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng
Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, đến năm 1862 chia về phủ Thuận
Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn.

Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên.
Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948,
xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang
Minh. Nhưng từ năm 1964, tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng
và Giang Cao như hiện nay.

Từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen,
xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua cầu
Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sông Hồng đến đốc Giang
Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu
Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát
Tràng (khoảng hơn 20 km).




Hình chụp tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Sự hình thành làng gốm

Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng gốm Bát Tràng.


  • Đại Việt sử ký toàn thư chép "Nhâm
    Thìn, Thiệu Phong năm thú 12 (1352) mùa thu, tháng 7, nước lớn tràn
    ngập, vỡ đê xã Bát, Khối, lúa má chìm ngập. Khoái Châu, Hồng Châu và
    Thuận An bị hại nhất
    ". Xã Bát là xã Bát Tràng, xã Khối là xã Thổ Khối, hai xã ven đê bên tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay.

  • Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm
    1376, trong một cuộc Nam chinh, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông
    xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông Hồng thuộc xã Bát Tràng.

  • Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn có đoạn "Bát
    Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng ấy
    cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm
    "...

Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở
Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn. Tại Bát Tràng đến nay
vẫn lưu truyền những huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau:


  • Vào
    thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí
    Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống. Sau
    khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng
    Đông) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến
    thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê
    hương. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men trắng. Đào Trí Tiến
    truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc) nước men sắc đỏ. Lưu
    Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc) nước men màu
    vàng thẫm. Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng
    với ít nhiều sai biệt về tình tiết. Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã
    có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127.



  • Theo ký ức và tục lệ dân gian thì
    trong số các dòng họ ở Bát Tràng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng là cư dân
    bản địa và lâu đời nhất, nên được giữ vị trí tôn trọng trong ngôi thứ
    cũng như trong lễ hội của làng. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là
    họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng
    chưa có tư liệu xác nhận. Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ
    Trịnh, Lê, Vương, Phạm, Nguyễn... ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát
    di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê và đầu
    thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện
    Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại. Ngày nay, Bồ Xuyên và
    Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình,
    vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Theo
    truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư
    dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua
    dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều
    nơi ở vùng này.

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng
Long, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Do
nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ
các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát
triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các
làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có
nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một
số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm,
gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã
biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm
gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Đến nay, chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân
vật trên cũng như khẳng định sự hình thành của làng. Những công trình
khai quật khảo cổ học trong tương lai có thể cho thấy rõ hơn bề dày
lịch sử và những di tích của làng gốm Bát Tràng. Chỉ có điều chắc chắn
là gốm Bát Tràng xuất hiện từ rất sớm, vào giai đoạn cuối của Văn hoá
Hoà Bình đầu Văn hoá Bắc Sơn. Trong quá trình phát triển nghề gốm,
đương nhiện có nhiều quan hệ giao lưu với gốm sứ Trung Quốc và có tiếp
nhận một số ảnh hưởng của gốm sứ Trung Quốc.
Những thời kỳ phát triển
Về Đầu Trang Go down
solsol
THÀNH VIÊN 100
THÀNH VIÊN 100
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 159
Thanks! : 5
Join date : 05/09/2009
Age : 30
Đến từ : HN

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng   6/9/2009, 8:33 am


Thế kỷ 15–16

Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian
này là cởi mở, không chủ trương "ức thương" như trước nên kinh tế hàng
hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn; nhờ đó, sản phẩm gốm Bát
Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm
có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất.
Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàng bao gồm cả một số quan
chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn
quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mỹ quốc công phu nhân... Người
đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện
vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.



Thế kỷ 16–17

Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ 15, nhiều nước phát triển của
Tây Âu tràn sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp...
thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động
mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở
nên sôi động, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán
châu Á và với thị trường thế giới đang hình thành.

Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn
bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung
Quốc bị hạn chế đã tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị
trường ở vùng Đông Nam Á. Khi nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng
(1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan
trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật
Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng
vào Nhật Bản.

Năm 1644nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượt biển
buôn bán với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan.
Trong thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có
đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điều
kiện phát triển mạnh.

Thế kỷ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm
xuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và
nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân,
huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và
Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là
hại trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài. Bát
Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở
khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị
này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài. Qua thuyền buôn
Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ
gốm Việt Nam được bán sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á.

Các công ty phương Tây, nhất là Công ty Đông Ấn của Hà Lan, trong
phương thức buôn bán "từ Ấn Độ (phương Đông) sang Ấn Độ", đã mua nhiều
đồ gốm Việt Nam bán sang thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản.



Cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18

Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảm sút
nhanh chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều Thanh
bãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Từ đó, gốm sứ
chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á và đồ
gốm Việt Nam không đủ sức cạnh tranh. Nhật Bản, sau một thời gian đóng
cửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc, đồng, đã đẩy mạnh được sự
phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ... mà
trước đây phải mua sản phẩm của nước ngoài.



Thế kỷ 18–19

Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp với những hàng
hoá mới cần thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tình hình kinh tế đó cùng với
chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong
thế kỷ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch
đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy
giảm. Đó là lý do khiến một số làng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (như
làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn
giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong
nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần
thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai
đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng
vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.
Gốm Bát Tràng từ thế kỷ 19 đến nay

  • Trong
    thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và
    hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình
    thường.

  • Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), tại
    Bát Tràng thành lập Xí nghiệp gốm Bát Tràng (1958), Xí nghiệp X51, X54
    (1988) cùng một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), Hưng Hà (1977), Hợp
    Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm
    sứ (1984)... Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong
    nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi
    tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn
    Vấn... đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở
    các tỉnh.

  • Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển
    biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải
    thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập
    nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản
    xuất nhỏ theo hộ gia đình. Từ thôn Bát Tràng, nghề gốm nhanh chóng lan
    sang thôn Giang Cao và đến nay, cả xã Bát Tràng (gồm hai thôn Bát
    Tràng, Giang Cao) trở thành một trung tâm gốm lớn.

  • Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày
    càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm
    Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng
    trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... kiểu mới, các
    vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu
    theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị
    trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát
    Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải
    tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong
    việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men
    đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc...



Gốm Bát Tràng men lam hũ nút
Về Đầu Trang Go down
solsol
THÀNH VIÊN 100
THÀNH VIÊN 100
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 159
Thanks! : 5
Join date : 05/09/2009
Age : 30
Đến từ : HN

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng   6/9/2009, 8:33 am

Gốm Bát Tràng

Làng gốm sứ Bát Tràng - ngôi làng cổ khoảng 500 tuổi nằm cách thủ đô Hà
Nội khoảng 10km về phía Ðông Nam, bên tả ngạn sông Hồng, trước đây
thuộc tỉnh Bắc Ninh nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.


Sơ lược:


Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tên xã Bát tức Bát Tràng xuất hiện lần
đầu tiên vào năm 1352. Nhưng theo dã sử thì vào thời nhà Lý (1010-1225)
dân từ xã Bồ Bát thuộc tỉnh Ninh Bình đến lập nghiệp tại vùng đất này
và đặt tên là xã Bát Tràng. Sở dĩ người dân Bồ Bát chọn vùng đất này để
lập nghiệp vì ở đây có đất sét trắng-một nguồn nguyên liệu tốt để cho
ra những sản phẩm gốm có chất lượng cao. Hơn nữa, vùng đất này nằm cạnh
bờ sông Nhị tức sông Hồng sẽ thuận lợi cho việc giao thông, chuyên chở
và trao đổi hàng hóa.

Từ khi những sản phẩm của làng gốm Bát Tràng ra đời đã được các bậc
vương giả quyền quý ở kinh thành Thăng Long cho đến nông phu chân lấm
tay bùn ở thôn quê đều ưa chuộng. Không những thế, nhiều đồ gia dụng
thường ngày ở Bát Tràng còn vượt ra biên giới đất Việt. Từ thế kỷ XV,
đồ gốm Bát Tràng có mặt trong lễ vật triều cống cho các hoàng đế Trung
Hoa-nơi có truyền thống làm gốm sứ từ hàng ngàn năm trước và nổi tiếng
khắp thế giới. Từ đó về sau, thời đại nào, dù suy hay thịnh, thì làng
gốm Bát Tràng vẫn khẳng định giá trị hàng hóa của mình, nghề gốm vẫn
trụ vững và vượt qua mọi thử thách.


Từ vài thập kỷ nay, sức sống của làng nghề truyền thống vẫn được thổi
lên bởi ngàn lò gốm cháy rực suốt ngày đêm. Hiện nay, ở Bát Tràng nhiều
lò gốm đã không dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà đã dùng lò công
nghiệp đốt bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường đồng thời
cũng giảm được lượng phế phẩm.

Theo các nghệ nhân của làng, đề tài phổ biến của các sản phẩm gốm Bát
Tràng là hình rồng, phượng, câu thơ đối, hoa văn, cảnh người, cảnh hoa,
cảnh thiên nhiên...đều phản ánh đời sống tâm linh và triết lý của con
người Việt Nam.

Từ các thế kỷ trước, gốm Bát Tràng chủ yếu là đồ thờ. Về sau gốm Bát
Tràng đã có nhiều đồ gia dụng, phổ biến nhất là bát, đĩa, bình, lọ, ấm
chén. Và ngày nay, gốm Bát Tràng đã có khá nhiều mặt hàng phong phú về
chủng loại và kiểu dáng, bao gồm cả những mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo
tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên bản và phù điêu với kỹ thuật và
công nghệ cao. Các bộ sưu tập gốm sứ Bát Tràng đã đạt tới đỉnh cao của
nghệ thuật và kỹ thuật chế tạo đồ gốm sứ ở Việt Nam.

Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng trong cả nước mà còn
được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới từ năm 1990 như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Mỹ và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng
đang được lưu trữ tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện
bảo tàng Royaux-Bỉ, Viện bảo tàng Guimet-Pháp.

Ông John S. Guy làm việc tại viện bảo tàng Victoria and Albert-London
đã đánh giá cao về gốm Bát Tràng trong thời nhà Lý-Trần và cho rằng đồ
gốm Việt Nam đã nói lên được tính độc lập của dân tộc Việt Nam. Ông còn
nói, gốm cổ Bát Tràng quả là niềm tự hào của người Việt Nam và hình ảnh
người dân Bát Tràng làm việc miệt mài sẽ là những kỷ niệm trong ký ức
của ông.

Từ năm 2002, các nghệ nhân Bát Tràng bắt đầu liên kết để sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên
của hiệp hội không chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các
công ty kinh doanh gốm sứ. Thông qua hiệp hội, người Bát Tràng có cơ
hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong
công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử
và cách nâng cao năng lực cạnh tranh.

Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất
khẩu Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu "Bát Tràng Việt
Nam-1.000 năm truyền thống".

Về Bát Tràng bây giờ, du khách sẽ thấy một Bát Tràng-làng cổ tồn tại
song song với một Bát Tràng -đô thị. Truyền thống và hiện đại đan xen
cả trong tư duy sản xuất, kinh doanh của người làm gốm cũng như trong
diện mạo của làng gốm Bát Tràng.


Hàng năm, lễ hội làng Bát Tràng được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 (âm lịch) và thường kéo dài 7 ngày.
Về Đầu Trang Go down
solsol
THÀNH VIÊN 100
THÀNH VIÊN 100
avatar

Giới tính : Nam Tổng số bài gửi : 159
Thanks! : 5
Join date : 05/09/2009
Age : 30
Đến từ : HN

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng   6/9/2009, 8:33 am

Quy trình

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế
đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm.
Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì
da, thứ ba dạc lò".
Quá trình tạo cốt gốm

Chọn đất

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét
làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên
cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ
dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư
phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở
đây.
Xử lý, pha chế đất


Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu
của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác
nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất
truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4
bể ở độ cao khác nhau.

Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô
và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của
nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình
phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín"
(cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự
hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng
này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt
đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến
hành loại bỏ chúng.

Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người
Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang
bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị
khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các
chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.

Tạo dáng




Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay
trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ
biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này
thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt
bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất
trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi
ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn
xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới
"đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá
trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng
sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong
thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay
vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở
mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ
với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần
và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được
công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên
bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.


Phơi sấy và sửa hàng mộc


Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm
thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát
Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng
mát. Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật
trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh.
Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn
xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc"
cho đất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa").
Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ
khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách...), khoan
lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn
mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là
"làm hàng bộ", phải dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bàn".
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng   

Về Đầu Trang Go down
 
Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Nỗi Lòng Trương Vô Kỵ
» Vụ án yêu thích nhất của bạn
» Bánh bột chiên Triều Châu
» 11 chiếc ấn rồng vàng tinh xảo của triều Nguyễn
» BÓNG MÂY - bài giảng về Mẹ làm rung chuyển trái tim hàng triệu người con

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: DIỄN ĐÀN THIẾT KẾ TẠO DÁNG :: SẢN PHẨM TẠO DÁNG :: GỐM-SỨ-THỦY TINH-
Chuyển đến